THẾ GIỚI TÂM LINH Số 55 – Phát thanh ngày 08. 02. 2026
BUỔI NÓI CHUYỆN TẠI TÂM LINH ĐÀN
Ngày 22. 01. 2006 (Tiếp theo)
- Có những tội nhân dù ta cầu nguyện cũng phải có điều kiện.
– (Thủy): Cháu hỏi cô chú cầu nguyện cho gia đình, cô chú có cảm thấy được ơn gì chưa?
– (Tâm): Khó biết lắm! Nếu như mình cầu nguyện cho người sống, thì còn có thể biết được chút ít, chứ cầu nguyện cho một linh hồn nào, nếu như không có cô để hỏi, hoặc nhờ, thì chẳng làm sao biết được! Tỷ dụ như trường hợp cậu Diện, chúng tôi chẳng phải chỉ gởi tiền xin lễ, mà chính mình cũng phải cầu xin cho cậu ấy nữa! Vì nghĩ đã mấy chục năm rồi, thì thương người ta lắm! Hôm nọ, Trinh phôn sang Mỹ gặp người em dâu của cậu ấy, bảo hai vợ chồng cầu nguyện và xin lễ cho Diện, cô ấy trả lời tỉnh bơ: “Giờ này anh ấy lên Thiên đàng từ lâu rồi!” Thực ra mình cũng không trách cô ấy làm gì, vì hầu hết người ta cứ hay nghĩ như vậy!
– (Th): Để cháu đi hỏi lại xem sao? (Vài giây sau) Thiên Thần bảo có nhận được ơn cầu xin cho việc này … song chưa đủ!
(Ghi chú: Tôi với Trinh có bàn riêng với nhau một chút, rồi tính ra điều kiện là Thánh lễ Ba Mươi, thì có lẽ là cha chưa làm đủ lễ, mà mình cầu nguyện cũng chưa đủ ngày, nhưng mà nhờ cô Thủy vợ chồng mình cũng biết được là LH có nhận được ơn! Như vậy mình có hy vọng, và tiếp tục cầu xin).
- Cầu nguyện cho một đôi vợ chồng trẻ (Hôn nhân bị rạn nứt) – (Trường hợp của Giang + Đệ)
– (Tâm): Cũng là chuyện cầu nguyện cho gia đình, có một trường hợp chúng tôi cũng đang lo lắng và cầu nguyện cho gia đình của đứa em: Chồng tên Đệ, vợ tên Giang. Vợ đi làm văn phòng của một công ty Du lịch trong một số năm, nên có tình cảm với một thanh niên cùng phòng. Mới đây chồng tâm sự cho chúng tôi hay vợ muốn ra tòa ly dị.
*** Phụ chú: Chuyện xảy ra ở VN. Giang là con của một gia đình Cán bộ Cộng Sản miền bắc đã vô Nam sau năm 1975, cô lớn lên và đi học ở Sài Gòn. Đệ Giang quen nhau trong thời học sinh. Mặc dù hoàn toàn khác biệt về lý tưởng: bên Quốc gia, bên Cộng sản; bên Thiên Chúa, bên vô thần, hai người vẫn tiến tới hôn nhân. Giang tình nguyện xin Rửa tội. Trước khi Giang thông báo cho Đệ biết ý định muốn ly dị của mình, thì họ đã có với nhau một đứa con trai đã được vài tuổi. Đệ tất nhiên rất buồn, vì đây chỉ là ý kiến của một bên.
– (T): Cô nghĩ mình có thể cầu nguyện cho người phụ nữ này bỏ được ý muốn ly dị chồng … được không?
– (Thủy): Việc này, theo suy luận của cháu, một khi người ta đã “hủy bỏ giao ước” tức lời hứa Hôn nhân trước mặt Thiên Chúa, thì cháu cho biết: Tội nặng lắm! Không cần biết ngày xưa họ theo Chúa thật hay giả.
Luận bàn: Tôi nghĩ giả dối cũng là bản chất người CS, Giang còn là Học sinh, thì chưa chắc đã là đảng viên như cha mẹ nàng. Có điều lối “đúc khuôn” của CS (ta không thể dùng chữ “Giáo dục”, vì giáo dục là làm cho tốt. Vả lại Việt Cộng dùng từ “trồng người”. Tiếc là tác giả không có giờ để bàn về lãnh vực này), đúc khuôn là biến những thế hệ con trẻ trở nên một khuôn mẫu nhất định. 70 năm qua đi, cái khuôn mẫu ấy đã tạo ra những con người ích kỷ, kiêu căng, dối trá, quỉ quyệt và trái tim sỏi đá. Làm cho con người thành bộ máy chỉ biết tuân hành theo mệnh lệnh của đảng. Khi con người thành cỗ máy, thì không phân biệt thiện ác! Trái tim trở nên vô cảm: không thương tâm, và hững hờ trước những đau khổ của người khác. Khi họ đã xem cái gì là mục tiêu cần đạt, thì họ gạt bỏ tất cả những gì bị xem là chướng ngại, dù đó là Tôn giáo, Tổ quốc, cha mẹ, vợ hay chồng, con cái, anh em, thân thích, lẫn bạn bè … Tôi được biết xưa kia đảng CS Liên xô chưa xụp đổ, còn có chủ trương cấy tinh trùng, sản xuất bào thai trong ống nghiệm. Họ có mưu đồ sản xuất một hệ những con “người vô nhân”, không cha, không mẹ, không cảm xúc, chỉ biết thi hành mệnh lệnh, tổ chức thành những “Đoàn quân xâm lược”, hoàn bị guồng máy chiến tranh, để nhanh chóng vô sản hóa toàn thế giới … Nhưng họ đã không thành công.
Giang tất nhiên khó tránh khỏi bị “đúc khuôn” ngay từ trong bào thai, khi cha mẹ đã là những người Cộng sản cốt cán của chế độ. Bởi thế câu nói sau đây của cô Thủy, cho ta thấy gần như là một lời tiên tri.
Khi tôi đưa ra lời bàn luận này, cũng để nói lên sự xót xa cho Dân tộc VN ngày càng đi vào bế tắc, do những con người cùng hung cực ác, đã mất hẳn lương tri, chỉ còn duy nhất một thứ men CS trong tâm, trong trí, mà điên cuồng bán nước, hại dân. Trên tất cả mọi sự cùng khốn, là sự phá sản của một nền văn hóa, luân lý, đạo đức, tổ tiên khai sáng và dầy công xây đắp trên bốn ngàn năm. Hơn ba thế hệ miền Bắc, và hơn hai thế hệ con cháu ở miền Nam tính cho đến hôm nay (2017) bị đầu độc và nhuộm đỏ tâm hồn. Một thứ màu đỏ của khát máu và bốc lửa: Của sự giết chóc, tàn phá, và thiêu rụi. Những người bạn trẻ nào con giữ được tinh thần dân tộc, với tâm hồn trong sáng, chưa bị xâm chiếm bởi những cơn đói khát lòng tham, biến mình thành lang sói. Đã nhìn ra được chân thực của một chế độ bỉ ổi, vô cùng xấu xa. Đã nhất quyết không chấp nhận CS. Thì hãy cố gắng vượt qua những yếu đuối của tuổi thanh xuân, mà cẩn thận chọn bạn. Nhất là người bạn trăm năm. Cá nhân tốt chưa đủ! Phải có những gia đình thật tốt! Vì Gia đình là đơn vị nền tảng xây dựng xã hội, và quốc gia. Câu truyện trên đây nằm trong phạm vi gia đình, nên chúng ta hãy chỉ bàn trong giới hạn của nó!
– (Th): Cô ấy sẽ quyết định cách nào, thì việc ta cầu nguyện cứ cầu nguyện, song cháu nghĩ là sẽ không được như ý ta muốn! Nhiều lần cháu đã nói: Chúa cho con người ta được hoàn toàn tự do. Theo cháu nghĩ thì đó cũng là quy luật của Chúa. Nên không phải vì ta có lời cầu xin, mà Ngài phá bỏ quy luật của Ngài, là đi thọc tay xoay lại trái tim của cô ấy, khác nào cô ấy chỉ là con robot (người máy). Đấy là cháu ví dụ cho dễ hiểu! Chúa sẽ không xen vào quyền quyết định của mọi con người, cho dù là họ chọn theo Chúa, hay theo ma quỉ.
– (T): Nếu đã vậy thì ta có cần cầu nguyện hay không?
– (Th): Chú biết không, cầu nguyện là ta xin thêm ơn Chúa cho cô Giang. Nhưng như hết thảy những kẻ đi đàng tội lỗi, vấn đề là họ có mở lòng ra để đón nhận ơn Chúa hay không? Nếu họ không mở lòng, thì Chúa cũng phải chịu thôi, huống hồ là ta! Tuy nhiên, bất cứ ai có lòng cầu nguyện cho những người lầm đường lạc lối, đều cũng là thể hiện tinh thần bác ái đối với tha nhân, và cũng sẽ có điểm tốt đối với Chúa! Dẫu vậy, ta cũng cứ nên hy vọng! Biết đâu một chút thương yêu còn sót lại trong lòng cô ấy, dù là mong manh như sợi chỉ. Ví dụ như vì nghĩ đến đứa con, mà Giang dừng lại quyết định sai lầm của mình chăng? Nhưng khó!
- Ta phải cầu nguyện cho cả người thân lẫn người mình không thích, dù là: Người công chính cũng như kẻ bất lương.
– (Cô Thủy tiếp): Chú nghĩ thế nào về điều cháu chia sẻ với chú là … ta hãy cứ cầu nguyện cho cô Giang! Dù chỉ là một chút hy vọng mong manh như sợi chỉ. Hay dù cái gốc con người của cô ấy là người Cộng Sản, và dù ta có biết chắc người Cộng Sản không có thủy chung, mà chỉ sống bằng lợi ích, hay nhu cầu vị kỷ?
– (Tâm): Vâng, tôi cũng đồng ý với cô là mình nên tiếp tục cầu nguyện cho Giang. Cho dù biết rằng rất khó! Vì tôi nhớ, Chúa Giêsu đã dạy ta một khi đã là con cái của Cha trên Trời, thì ta phải nên giống Cha mình là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên kẻ xấu, cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương (Mt 5,45).
Dầu sao thì họ cũng là em út của mình cô biết không, chẳng lẽ mình lại không muốn cho gia đình em mình, là hai đứa chúng nó được hạnh phúc? Chia rẽ thì có gì là tốt đâu!
- Bà Thánh Monica xin với Chúa: Sẵn sàng đổi mạng sống mình, để cho con là Augustino được ơn trở lại.
– (C.Th): Cháu nói là cô chú hay là mẹ cháu muốn thì rất nhiều! Ví dụ: Mẹ cháu cứ muốn trúng số … nhưng Chúa không cho thì chịu thôi! Chú nghĩ đi, nếu cầu xin cái gì … cũng được ngay, thì ta đâu có phải đọc kinh nhiều! Nhất là những ngưòi ngại đọc kinh như mẹ cháu.
– (Trinh): Nhà tôi cũng vậy đó … cô ạ!
– (Thủy): Cô nói chú rồi đó, chú thấy sao?
– (Tâm): Tôi cứ theo gương bà Thánh Monica cầu cho Thánh Augustino con trai bà, lúc vị này như người con hoang chống lại giáo hội. Nhưng mà thú thực, nhà tôi nhận xét cũng đúng! Làm gì thì làm, chứ mà đọc kinh nhiều như các bà … Tôi thua là cái chắc! Đấu không lại đâu! Nhưng cô biết không, sách đâu có nói bà Thánh Monica đọc nhiều kinh đâu! Bà chỉ khóc và kể cho Chúa nghe về tình trạng hư hỏng của con bà thôi mà! Nên tôi chọn cách này! Hihi …
– (Th): Cháu đồng ý với chú về bà Thánh Monica có con đi đàng tội lỗi, song hình như bà Thánh có cầu xin rằng: Bà sẵn sàng đổi mạng sống mình cho ông con trở lại. Giả như chú, thì chú có muốn đổi tính mạng mình cho ông em, hoặc là xin vào nơi tối tăm, nóng nảy ba giờ đồng hồ trong luyện ngục, hy sinh cho em; Hoặc hãm mình, ăn chay, nhịn thuốc (năm đó tôi vẫn còn hút thuốc cho tới năm hai không lẻ tám). Chú muốn cách nào ạ?
– (T): (Tôi biết cô Thủy lại chọc tức cho vui thôi! Tôi bảo): Bây giờ chưa chọn ngay được, phải để suy nghĩ đã, bởi cái nào cũng lợi hại cả!
– (cô Thủy): Vậy thì ta cứ tiếp tục cầu xin đi, dù là chưa thấy gì!
– (T): Cám ơn cô Thủy!
– (Th): Chú có muốn xin chịu đựng 3 giờ cho ông em không?
– (Tôi biết là cô đùa, nên nói cho vui theo): Nếu Chúa gọi ngay bây giờ thì OK! Còn hễ chậm chỉ một giờ thì thôi đi!
– (Thủy): Cháu không biết cuốn sổ Chúa để đâu! Nhưng mà chú cứ chờ một giờ, nếu Chúa không gọi thì chú cứ coi như là Chúa muốn chú ở đây, để chú lo làm việc Chúa muốn là: Yêu Thương, tha thứ và làm việc bác ái. (CÒN TIẾP)
————–PHẦN HAI ————–
SỐ ĐẶC BIỆT: TƯỚC HIỆU ĐỨC MẸ LÀ ĐẤNG ĐỒNG CÔNG CỨU CHUỘC
Kính thưa Quý thính giả và các bạn trẻ, ngày 4 tháng 11,2025 vừa qua Bộ Giáo lý Đức tin (DDF) đã cho công bố một “Ghi chú tín lý” về các tước hiệu của Đức Trinh Nữ Maria. Văn kiện mang tựa đề “Mater populi fidelis” (“Mẹ của Dân Thánh Chúa”) được Đức Thánh cha Lêô XIV phê chuẩn ngày 07/10/2025, trong đó hạn chế việc sử dụng một số tước hiệu truyền thống dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Văn kiện đánh giá cao các tước hiệu như “Mẹ các tín hữu”, “Mẹ thiêng liêng”, “Mẹ của Dân Thánh Chúa”, nhấn mạnh vai trò của Đức Maria như Đấng đồng hành và nâng đỡ dân Chúa. Tuy nhiên, Bộ cũng nhấn mạnh rằng tước hiệu “Đồng Công Cứu Chuộc” (“Coredemptrix”) là không thích hợp. Không chỉ tước hiệu “”Đồng Công Cứu Chuộc’’ mà cả tước hiệu ‘’Đấng Trung Gian muôn ơn’’ cũng bị đặt dấu chấm hỏi to tướng.
Vậy tại sao DDF lại coi tước hiệu “Đồng Công Cứu Chuộc” của Đức Maria là khái niệm “luôn không phù hợp”. Với việc dán nhãn này của Vatican thì đồng nghĩa với việc cấm sử dụng Tước hiệu trên trong các văn bản chính thức.
Thực ra việc cấm này đã manh nha từ thời ĐGH Francis khi năm 2017, Tòa Thánh đã ép buộc Dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc (thường gọi là Dòng Đồng Công – CMC) phải đổi tên thành Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Congregation of the Mother of the Redeemer – CRM) kể từ ngày 7 tháng 4 năm 2017. Lý do cho việc cấm sử dụng này, được DDF thời Hồng Y ‘’Tucho’’ Fernandez đưa ra như sau: “Khi một thành ngữ đòi hỏi nhiều giải thích lặp đi lặp lại để tránh đi chệch khỏi ý nghĩa đúng đắn, thì nó không phục vụ đức tin của Dân Chúa và trở nên vô ích…’’ sic. Bạn cứ đi hỏi bất kỳ người giáo dân nào ở VN xem có hiểu lầm hay là cần giải thích gì về việc Mẹ Đồng Công cứu chuộc hay không thì sẽ rõ. Cho nên nhiều người đã mỉa mai rằng, người cần được giải thích để tránh hiểu lầm chỉ có thể là Tucho Fernandez.
Trở lại vấn đề trên, trong nhiều thập niên gần đây các nhà thần học về Thánh Mẫu Học luôn thúc giục Vatican công bố một Tín điều về Đức Mẹ đó là Tín điều Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc (Co-Redemptrix) và là Đấng Trung gian muôn Ơn (Mediatrix). Ta nghiệm xem đây có phải là một thuật ngữ xa lạ được gợi ý bởi một thị nhân sau một lần hiện ra đáng ngờ hay không, hay đây đã là một cách diễn đạt mà Giáo hội đã sử dụng trong nhiều thế kỷ, và ý nghĩa chính xác của nó đã được các nhà thần học xác định rõ ràng? Hoàn toàn không xa lạ, không một chút nào (nhất là tại VN còn có cả một dòng tu lấy tên là Dòng Đồng Công). Hơn thế nữa các Tước hiệu này đã được rất nhiều Thánh Giáo phụ và các Giáo hoàng ưa dùng như các Thánh Alfonso, Thánh Maximilian Kolbe, Cha Thánh Padre Pio (5 Dấu), các ĐGH Pio IX, Benedict XV, Pio X… Điều nghịch lý là chính Đức Gioan Phaolô II cũng đã nhiều lần sử dụng danh hiệu này.
Trong Huấn quyền của mình, Thánh GH Piô X đã định nghĩa rất rõ ràng cả nền tảng lẫn phạm vi của sự Đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ. Trong thông điệp về Đức Maria Ad diem illum (2 tháng 2 năm 1904) mặc dù Thánh GH Piô X không sử dụng chính xác thuật ngữ Co-Redemptrix, nhưng Ngài đã trình bày một cách trực tiếp và minh bạch cả về vai trò Đồng Công cứu chuộc và là Đấng trung gian phổ quát của Đức Mẹ, tóm tắt như sau:
“Khi giờ phút cuối cùng của Chúa Con đến, bên cạnh Thập giá của Chúa Giêsu, Mẹ Maria đứng đó, không chỉ bận tâm chiêm ngưỡng cảnh tượng đau thương, nhưng còn vui mừng vì Con Một của Mẹ được dâng hiến cho ơn cứu độ nhân loại, và Mẹ đã hoàn toàn tham dự vào Cuộc Thương Khó của Người, đến mức nếu có thể, Mẹ sẵn lòng chịu tất cả những cực hình mà Con Mẹ đã chịu. Và từ sự cộng tác trong ý chí và đau khổ này giữa Đức Kitô và Mẹ Maria, Mẹ xứng đáng trở thành Đấng Phục Hồi thế giới hư mất ‘ và là Đấng Phân Phát mọi ân huệ mà Đấng Cứu Độ chúng ta đã mua chuộc bằng chính Cái Chết và Máu của Người.
Dĩ nhiên, không thể phủ nhận rằng việc phân phát những kho tàng này là quyền đặc biệt và riêng biệt của Chúa Giêsu Kitô, bởi vì chúng là hoa trái độc nhất vô nhị từ Cái Chết của Người, Đấng mà tự bản chất là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người. Tuy nhiên, nhờ sự đồng hành trong đau thương và thống khổ đã được đề cập ở trên giữa Mẹ và Chúa Con, Đức Trinh Nữ cao quý đã được phép ‘trở thành Đấng trung gian và biện hộ quyền năng nhất cho toàn thế giới cùng với Con Thiên Chúa của Mẹ’.
Vậy thì, nguồn gốc là Chúa Giêsu Kitô, ‘Từ nguồn sung mãn của Người,tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác’’ (Ga 1:16). Và ‘’ Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái’’ (Ep 4:16). Nhưng Đức Mẹ Maria, như Thánh Bernard đã nhận xét một cách chính đáng, là ‘kênh hay là máng thông ban muôn ơn’’; hay nói cách khác, là phần kết nối có chức năng nối thân thể với đầu và truyền cho thân thể những ảnh hưởng và ý chí của đầu – Chúng ta muốn nói đến “cái cổ’’. Vâng, Thánh Bernardine thành Siena nói, ‘Mẹ là cổ của Đầu Chúng Ta, qua đó Người truyền cho Thân thể huyền nhiệm của Người mọi ân sủng thiêng liêng. Như vậy sẽ thấy, chúng ta còn rất xa với việc gán cho Mẹ Thiên Chúa một quyền năng sinh sôi ân sủng – một quyền năng chỉ thuộc về Thiên Chúa. Tuy nhiên, vì Đức Mẹ mang quyền năng đó trên tất cả, trong sự thánh thiện và hiệp nhất với Chúa Giêsu Kitô. Và đã được Chúa Giêsu Kitô kết hiệp vào công trình cứu chuộc, nên theo ngôn ngữ của các nhà thần học, Mẹ xứng đáng ban cho chúng ta de congruo (công trạng thích hợp), những gì Chúa Giêsu Kitô xứng đáng ban cho chúng ta de condigno (công trạng xứng đáng) (1); và Mẹ là thừa tác viên tối cao của việc phân phát ân sủng. Chúa Giêsu Kito ‘Đấng ngự bên hữu Đức Chúa Cha’; Đức Mẹ ngự bên hữu Con mình—’một nơi nương náu an toàn và một sự giúp đỡ đáng tin cậy chống lại mọi nguy hiểm đến nỗi chúng ta không có gì phải sợ hãi hay tuyệt vọng dưới sự hướng dẫn, sự bảo trợ và sự che chở của Đức Mẹ’’
Đoạn trích dẫn trên từ thông điệp Ad diem illum của Thánh GH Pio X chắc chắn khá dài, nhưng nó chứa đựng chính xác câu trả lời cho những kết luận được nêu trong tài liệu MPF của DDF. Hơn nữa, cần lưu ý rằng thông điệp này của Thánh Piô X chỉ được đề cập trong phần chú thích ở cuối “”Tài liệu Ghi chú’’, chứ không thực sự được trích dẫn. Lý do rất dễ hiểu: nó không phù hợp với định hướng thần học mới.
————–
Chú thích:
theo giáo huấn Công giáo. De condigno chỉ công trạng xứng đáng của Chúa Kitô (vì Người là Thiên Chúa), trong khi de congruo chỉ công trạng thích hợp của Đức Maria (dựa trên sự thánh thiện và liên kết với Chúa Kitô). Điều này khẳng định Maria là Đấng Trung Gian, nhưng luôn dưới Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất.
Phụ chú: Nguồn Gốc và Ý Nghĩa của Thuật Ngữ De Congruo và De Condigno trong Thần Học Công Giáo.
Chúng là những khái niệm cốt lõi trong giáo lý Công giáo về công trạng (merit). Chúng xuất hiện từ truyền thống thần học kinh viện (scholastic), đặc biệt là từ Thánh Tôma Aquinô, và được sử dụng để phân biệt hai loại công trạng trong mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa. Những thuật ngữ này không phải là “phát minh” mới mẻ mà phát triển từ các cuộc tranh luận chống lại Pelagianism và Semipelagianism trong thời kỳ các Giáo phụ và scholasticism trung cổ. Chúng nhấn mạnh rằng mọi công trạng của con người đều bắt nguồn từ ân sủng Thiên Chúa, không phải từ công trạng tự nhiên của con người.
a)Nguồn Gốc Lịch Sử
Thuật ngữ de condigno (công trạng xứng đáng hoặc condign merit) và de congruo (công trạng thích hợp hoặc congruous merit) được hình thành trong bối cảnh thần học Công giáo thế kỷ 12–13, đặc biệt qua các nhà thần học scholastic như Thánh Tôma Aquinô trong Summa Theologiae (ST). Chúng được sử dụng để giải thích cách con người có thể “công trạng” trước mặt Thiên Chúa, trong khi vẫn khẳng định rằng Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi công lý con người vì Người là Đấng Tự Hữu (self-existent).
Từ Thánh Tôma Aquinô: Aquinô phân biệt hai loại công trạng dựa trên hai nguyên tắc hoạt động trong hành động của con người được thánh hóa: ý chí tự do con người và ân sủng của Chúa Thánh Thần. Ông viết rằng hành động công trạng có thể được xem xét theo hai cách: (1) từ góc độ ý chí con người (dẫn đến meritum de congruo), và (2) từ góc độ ân sủng thần linh (dẫn đến meritum de condigno). Sự phân biệt này xuất hiện rõ nét trong Tổng Luận Thần học (I-II, q. 114, a. 3), nơi Thánh Thomas Aquinô giải thích rằng công trạng de condigno dựa trên sự tham dự vào bản tính thần linh qua ân sủng, trong khi de congruo dựa trên sự “thích hợp” (fittingness) giữa hành động và phần thưởng.1 2
b) Ý Nghĩa Thần Học
Những thuật ngữ này giúp làm rõ mối quan hệ giữa công lý Thiên Chúa, ân sủng, và tự do con người. Chúng không phải là “hợp đồng pháp lý” mà là cách diễn tả sự tham dự vào đời sống thần linh.
De Condigno (Công Trạng Xứng Đáng): Đây là công trạng theo công lý nghiêm ngặt (strict justice), nơi có sự bình đẳng giữa hành động và phần thưởng. Nó chỉ áp dụng cho những hành động của con người được thánh hóa bởi ân sủng Chúa Thánh Thần, vì con người không thể đòi hỏi Thiên Chúa theo công lý tự nhiên (do khoảng cách vô hạn giữa tạo vật và Đấng Tạo Hóa). Aquinô giải thích: “Nếu hành động được xem xét theo thực chất của nó và theo ý chí tự do, thì không có sự xứng đáng (condignity) vì sự bất bình đẳng lớn lao… Nhưng nếu xem xét theo phẩm giá của ân sủng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, thì có sự xứng đáng.”1 Ví dụ, Chúa Kitô công trạng de condigno cho toàn thể nhân loại vì Người là Thiên Chúa làm Người.
De Congruo (Công Trạng Thích Hợp): Đây là công trạng theo sự “thích hợp” hoặc công lý phân phối (equity/distributive justice), không tạo ra nghĩa vụ nghiêm ngặt mà dựa trên sự phù hợp (fittingness) và lòng thương xót Thiên Chúa. Nó xuất phát từ tình bạn với Thiên Chúa (friendship with God) qua ân sủng, nơi Thiên Chúa “nợ” phần thưởng vì lý do phù hợp với bản tính nhân từ của Người. Các nhà thần học phân biệt de congruo proprium (thích hợp đúng nghĩa, cho những người được thánh hóa) và de congruo improprium (thích hợp không đúng nghĩa, dựa thuần túy trên lòng thương xót, ví dụ: công trạng của người tội lỗi được Thiên Chúa chấp nhận).3 5 2 Ví dụ, Đức Maria công trạng de congruo cho chúng ta nhờ sự thánh thiện và liên kết với Chúa Kitô, nhưng không phải là Đấng Cứu Độ chính yếu.
Sự phân biệt này nhấn mạnh rằng mọi công trạng đều là “món quà của Thiên Chúa trở thành công trạng của chúng ta,” tránh hiểu lầm rằng con người tự cứu mình.
c) Ứng Dụng Trong Giáo Lý Công Giáo Hiện Đại
Trong thần học Công giáo, những khái niệm này được sử dụng để giải thích phần thưởng đời đời, vai trò của các thánh, và lời cầu bầu. Chúng phù hợp với giáo huấn của Công đồng Vatican II về ân sủng và công trạng (xem Lumen Gentium 14), nơi nhấn mạnh sự hợp tác giữa ân sủng và tự do. Nếu không có ân sủng, không có công trạng nào có thể tồn tại.
Tóm lại, de congruo và de condigno bắt nguồn từ Thánh Tôma Aquinô và truyền thống kinh viện (scholastic), nhằm bảo vệ sự phụ thuộc hoàn toàn vào ân sủng Thiên Chúa trong khi công nhận giá trị của hành động con người. Chúng giúp làm rõ rằng phần thưởng vĩnh cửu là ân huệ được “công trạng” nhờ Chúa Kitô, Đấng Trung Gian Duy Nhất.
- Lý do khiến DDF thời Fernandez luôn coi khái niệm Đồng Công Cứu Chuộc (Co-Redemtrix) là ‘’không phù hợp”
Thứ nhất, là vì Giáo hội đã ngày càng bị ‘’Tin lành hóa’’. Về phụng vụ, thì đã thay thế Thánh lễ Latin truyền thống bằng lễ Novus Odor được phát họa bởi các Giáo sĩ Tin lành. Về giáo huấn, thì từ CĐ Vat 2 đến nay, lợi dụng chiêu bài Đại kết, GH từ thời Francis qua đến GH Leo hiện nay đã phá vỡ hầu hết các Bí tích, khiến những khác biệt giữa Công giáo và Tin lành ngày càng thu hẹp dần như là 1 bước chuẩn bị để gom các tôn giáo Kito thành một thứ gọi là Tôn giáo Toàn cầu. Sau khi đã thành công trong việc làm tầm thường hóa BT Thánh thể (như cho rước lễ vô tội vạ cả những người ngoại giáo, những người li dị tái hôn, các chính trị gia ủng hộ phá thai…) thì giờ đây, DDF thời Tucho tất sẽ được nước làm tới đó là hạ bệ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Người.
Cần phải hiểu rằng khái niệm Đồng Công cứu chuộc và Đấng trung gian muôn ơn, hoàn toàn không phù hợp với thần học và tinh thần Tin Lành. Lợi dụng chiêu bài ‘’Đại kết’’, sự loại trừ này đã gây ra hậu quả tai hại đó là làm suy yếu đức tin nơi tín hữu nhất là nền đạo đức bình dân về lòng sùng kính Đức Mẹ.Bạn nghĩ đi, nếu giáo huấn truyền thống về Đức Trinh Nữ Maria không được nhắc lại thường xuyên thì cuối cùng nó sẽ bị mai một.
Thật trớ trêu, vậy mà Tucho Fernandez – người soạn thảo văn kiện này lại cho rằng 2 tước hiệu trên lại gây nguy hiểm cho đức tin, đó mới là thảm họa. Toàn bộ văn bản liên tục lặp lại rằng Đức Trinh Nữ Maria không được xúc phạm đến tính duy nhất và trung tâm của sự trung gian của Chúa chúng ta và vai trò duy nhất của Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Mối quan ngại lặp đi lặp lại này gần như là một bệnh lý – loại hoang tưởng tâm linh của Tucho.
Thực tế là không một giáo dân nào hướng về Đức Trinh Nữ Maria và để mình được Mẹ hướng dẫn, có thể gặp nguy cơ tôn kính Mẹ quá mức gây tổn hại đến Chúa chúng ta. Lòng sùng kính Đức Mẹ, được soi sáng bởi đức tin, chỉ có một mục đích: cho phép chúng ta đi sâu hơn vào mầu nhiệm của Chúa Cứu thế và của Sự Cứu Chuộc của Người. Điều này đã được hiểu rõ và thực hành từ ngàn xưa ít nhất là cho đến hôm nay.
Sau khi Văn kiện MPF ban hành, Hiệp hội Thánh Mẫu Quốc tế (IMATC) thông qua Ủy ban Thần học của Viện đã công bố một phản hồi dài 23 trang đánh giá tài liệu của DDF dưới ánh sáng giáo huấn của Giáo hoàng và truyền thống Thánh Mẫu học. Bản phản hồi đã nêu bật vai trò công cụ và thứ yếu của Đức Mẹ trong việc phân phát ân sủng, bản chất công đức của Mẹ Maria, và những hàm ý mục vụ của việc giảm nhẹ vai trò của Mẹ trong công cuộc cứu chuộc nhân loại của Chúa Kitô. Sau cùng, Ủy ban Thần học này khẳng định rằng: bằng cách trình bày sự cứu chuộc “chỉ dựa trên Chúa Giêsu, không có bất kỳ giá trị cứu chuộc nào của con người từ phía Đức Mẹ Maria”, dường như phù hợp với thần học cứu chuộc của Tin Lành hơn là với giáo lý Công giáo.
Lý do thứ hai, được Cha Pagliarini – Bề trên SSPX cho rằng: Những diễn đạt liên quan đến mầu nhiệm Cứu Chuộc và ân sủng từ mầu nhiệm ấy trong Thánh Lễ, ngày nay đã không còn như trước nữa. Những ý niệm về “hy lễ đền tội cho tội lỗi chúng ta” và “hy lễ đền tội cho công lý của Thiên Chúa” đang ngày càng bị bỏ rơi. Quan niệm về một hy lễ dâng lên Thiên Chúa để xoa dịu công lý của Người không còn được chấp nhận nữa. Do ảnh hưởng bởi Chủ nghĩa hiện đại, người ta cho rằng: Chúa chúng ta không thực sự cần phải xứng đáng, cũng không cần phải đền tội cho tội lỗi chúng ta, hay dâng một hy lễ đền tội, vì lòng thương xót của Thiên Chúa không hề bị thay đổi bởi thực tế tội lỗi của con người: lòng thương xót ấy là vô biên, vô điều kiện. Thiên Chúa luôn tha thứ, xuất phát từ lòng quảng đại tuyệt đối. Với diễn đạt như vậy, Chúa chúng ta là Đấng Cứu Chuộc theo một ý nghĩa hoàn toàn mới: Cái chết của Người không gì khác hơn là sự biểu hiện cuối cùng và tối cao của tình yêu thương xót của Chúa Cha. Do đó, chúng ta không nên ngạc nhiên khi từ sự bóp méo khái niệm Cứu Chuộc này, chắc chắn sẽ nảy sinh một sự bất lực cơ bản trong việc hiểu rằng làm thế nào và tại sao Đức Trinh Nữ có thể được liên kết với Mầu nhiệm Cứu Chuộc thông qua sự đau khổ của Mẹ.Về vấn đề này, Cha Pagliarini nói thêm, văn bản của DDF chứa đựng một lời cảnh báo mang tính tiết lộ:” Do đó, người ta phải tránh các tước hiệu và cách diễn đạt trình bày Đức Maria như một loại “cột thu lôi” trước sự công bằng của Chúa, như thể Người là một sự thay thế cần thiết trước sự không đủ của lòng thương xót Thiên Chúa’’ (trích đoạn 37).
Trong khi đó, đầu TK 20, Đức Bênêđíctô XV (1914-1922) đã viết về vai trò duy nhất của Đức Maria trong việc cứu chuộc nhân loại khi ngài đưa ra quan điểm “Mẹ hy sinh vai trò làm mẹ vì sự cứu rỗi nhân loại để hiến dâng Con Mẹ hòng thoa dịu công lý Thiên Chúa; vì vậy chúng ta có thể nói rằng cùng với Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ đã cứu chuộc nhân loại. ” (Theo nghĩa đó, thì Người là Đấng Đồng Công với Chúa Giêsu trong công cuộc Cứu Chuộc nhân loại).
– Liệu con người có thực sự có thể cộng tác vào ơn cứu độ của chính mình
Đằng sau điều mà người Công giáo coi là một “cuộc tấn công” vào các danh hiệu và lòng sùng kính Đức Mẹ đã được thiết lập từ lâu là một câu hỏi cơ bản hơn: Liệu con người có thực sự có thể cộng tác vào ơn cứu độ của chính mình? Hay mọi thứ đều hoàn toàn thụ động từ phía chúng ta?
Trái ngược với hầu hết các trào lưu Tin Lành, truyền thống Công giáo luôn khẳng định rằng trong khi chỉ có Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc, thì con người được mời gọi cộng tác, nhờ ân sủng, vào sự thánh hóa của chính mình – và thậm chí, một cách thứ yếu, vào sự cứu rỗi của người khác thông qua cầu nguyện, hy sinh và các việc làm bác ái.
Theo quan điểm này, Đức Mẹ Maria là hình mẫu và đỉnh cao của sự hợp tác như vậy. Lời thưa Fiat “Xin vâng” của Mẹ tại Lễ Truyền Tin và lòng trung thành của Mẹ dưới chân Thánh Giá được coi là sự tham gia cao nhất của con người vào công việc của Chúa Kitô. Từ đó mà xuất hiện Tước hiệu “”Đấng Trung Gian muôn ơn” và ‘’Đấng Đồng Công Cứu Chuộc’’ – không phải với tư cách là đối thủ của Chúa Kitô, mà là cách diễn đạt rằng vai trò của Mẹ Maria là độc nhất vô nhị, mặc dù hoàn toàn phụ thuộc vào Chúa Kito.
Nếu sự hợp tác này bị giảm thiểu ở Đức Mẹ Maria, thì nó cũng sẽ bị giảm thiểu ở tất cả mọi người. Hay nói khác hơn, nếu chúng ta tước bỏ công đức đó của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta cũng tước bỏ công đức đó của chính mình. Bởi vì nếu Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất và chúng ta không có khả năng góp phần vào sự cứu chuộc đó, thì chúng ta đã biến thành những người Tin Lành. Giáo hội Công giáo luôn dạy rằng chúng ta phải làm phần việc của mình để được cứu rỗi. Nếu không, chúng ta có thể làm tất cả những điều ác mình muốn mà cũng không sao – Chúa vẫn sẽ tha thứ cho chúng ta.
2. Đại kết – hay là sự đầu hàng về mặt giáo lý?
Lý lẽ chính thức để bãi bỏ các danh hiệu dành cho Đức Mẹ thường được trình bày dưới góc độ cái gọi là “đại kết”. Mối lo ngại được cho là những ngôn từ như “Đồng Công Cứu Chuộc ” hay “Đấng Trung Gian Muôn ơn” sẽ gây xa lánh những người Tin Lành, những người kiên quyết bác bỏ giáo lý Công giáo về Đức Mẹ. Nhưng đối với những người Công giáo trung thành tuân phục Giáo huấn và Truyền thống, lập luận đó lại hoàn toàn sai lầm.
Nếu chỉ vì đại kết mà chấp nhận bóp nghẹt chân lý Công giáo hay là lòng đạo đức bình dân của người tín hữu thì đó không phải là sự hiệp nhất, mà là sự tha hóa.
Một GM lên tiếng “Thay vì khẳng định Giáo lý Công giáo một cách rõ ràng và bác ái, Vatican ngày nay lại ngụy trang nó để phù hợp một cách sai lệch với luận điệu của chủ nghĩa tương đối mang hơi hướm của CN hiện đại chống Công giáo. Thay vì dạy giáo lý cho chúng ta, DDF lại bán đứng giáo lý và làm lu mờ đức tin của chính mình.
Sự bất an ngày càng lan rộng, bởi vì việc tấn công hạ thấp vai trò của Đức Mẹ trong MFP không chỉ là nhằm vào Mẹ Maria mà còn là nhằm vào Chúa Kito bởi vì ‘Mỗi chân lý về Đức Mẹ đều chứa đựng một chân lý về Chúa Kitô’.
Bởi vì Đức Mẹ là “hình ảnh phản chiếu hoàn hảo nhất của chân lý thiêng liêng trong con người. Giảm bớt vai trò của Mẹ là giảm bớt thực tại của ân sủng. Khi những danh hiệu cao quý của Mẹ bị coi là ‘không phù hợp’, thì không phải Mẹ bị giảm bớt, mà là sự hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô bị giảm bớt, bởi vì mỗi chân lý về Đức Mẹ đều bảo vệ một chân lý Kitô học” (vị GM lên tiếng)
Điều nguy hại ở chỗ là nếu chúng ta dập tắc lòng đạo đức bình dân hay là ngừng bảo vệ những mầu nhiệm của mình thì chẳng mấy chốc Chúng ta cũng sẽ ngừng tin vào những mầu nhiệm ấy.
Một nhà thần học được kính trọng khác nhận xét rằng vấn đề bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết đáng kinh ngạc về tiền tố co- trong co-redemptrix : Tiền tố “co-“ (trong tiếng Latinh “cum“) không có nghĩa là “ngang bằng” mà là “cùng với” (tiếng Việt mình có từ ”Đồng”). Đức Mẹ Maria không phải là một đối thủ cạnh trang ngang bằng với Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc. Mọi sự tham gia của Mẹ đều phụ thuộc, phái sinh, lệ thuộc – nhưng vô cùng chân thực. Sự vĩ đại của Mẹ không cạnh tranh với Chúa Kitô. Nó thể hiện sự trọn vẹn của những gì ân sủng của Thiên Chúa có thể thực hiện nơi một con người hoàn toàn mở lòng với Người.
Dĩ nhiên, hệ quả của điều này vượt xa lòng sùng kính Đức Mẹ. Nhiều tín hữu Công giáo khẳng định rằng, điều đang bị đe dọa chính là toàn bộ quan niệm Công giáo về Chúa Kitô, Giáo hội và con người.
Xét theo khía cạnh đó, những tranh chấp về các danh xưng như Mediatrix (Đấng Trung Gian) và Co-redemptrix (Đấng đồng Công Cứu Chuộc) không phải là chuyện nhỏ. Chúng là những điểm nóng trong cuộc đấu tranh rộng lớn hơn về việc liệu Công giáo sẽ vẫn là một đức tin mang tính bí tích, nhập thể – hay sẽ hoàn toàn biến thành một giáo phái tôn giáo yếu đuối, vô hại, không xúc phạm ai và hệ quả tất yếu sẽ là không cứu rỗi ai.
Cũng như thánh Belarmine và Hồng y Fulton Sheen từng tiên tri về một “Giáo hội giả mạo” (False Church) sẽ bắt chước Giáo hội chân chính nhưng lại làm suy yếu nó từ bên trong – duy trì vẻ bề ngoài nhưng áp đặt hay hướng dẫn áp dụng mục vụ kiểu mới (như tại Amoris Leatitia hay Phước lành Đồng tính Fiducia Supplicans). Chúng ta đều nhìn thấu được trò hề mà DDF dựng lên trong thông điệp Mater populi fidelis đơn giản là một dấu hiệu rõ ràng khác của mối nguy hiểm rất nghiêm trọng đó: một “giáo hội” lừa dối bằng cách giữ lại các hình ảnh, thánh ca và lễ kính Đức Mẹ, nhưng dần dần tước bỏ chiều sâu và ý nghĩa giáo lý của chúng; một “giáo hội” nơi một số từ ngữ quen thuộc vẫn còn tồn tại, nhưng các niềm tin và giáo lý cốt lõi bị pha loãng, mờ nhạt hoặc bị xuyên tạc.
Một Giám mục khác cảnh báo: “Khi Đức Mẹ im lặng, thì Thánh Giá cũng sẽ sớm theo sau. Khi ân sủng bị thay thế bởi tâm lý học đại chúng, các bí tích trở thành những biểu tượng đơn thuần, và đức tin trở thành một thứ thuốc an thần”. Trong một giáo hội giả mạo, trá hình như vậy, Đức Mẹ Maria không còn là người phụ nữ đập nát đầu con rắn nữa mà trở thành một hình ảnh ẩn dụ thơ mộng vô nghĩa. Bí tích Thánh Thể không còn là sự hy sinh không đổ máu trên đồi Calvary nữa mà sẽ trở thành một bữa ăn cộng đồng vui vẻ. Giáo hội không còn là Phương tiện Cứu Rỗi nữa mà trở thành một tổ chức phi chính phủ thế tục với hương trầm.
Đối với chúng ta, Hiệp nhất phải là thể hiện dung mạo của Chúa Kitô và Mẹ Người như Giáo hội luôn tin tưởng và tôn kính – một cách rõ ràng, không hề e ngại, với lòng bác ái nhưng không che đậy. Nếu vì đại kết mà bóp nghẹt sự thật thì không phải là đại kết mà là sự tha hóa./.
——-oOo——-
ACE/TGTL/SVTT&DCTĐ Kính chúc Quý thính giả và các bạn trẻ Một Tuần Lễ Bình An trong Thiên Chúa và Mẹ Maria.