THẾ GIỚI TÂM LINH Số 59 – Phát thanh ngày 15. 03. 2026
BUỔI NÓI CHUYỆN TẠI TÂM LINH ĐÀN
Ngày 17. 02. 2006
- Không phải chỉ có “Lậy Chúa, Lậy Chúa!”
– (Th): Bố được vui, gia đình Chúa cho không thiếu hụt, nhưng phải làm điều lành, điều tốt! Mẹ hỏi là mẹ đã cầu xin cho các linh hồn … vậy họ đã được tha chưa, con trả lời cho mẹ biết cách chung: Hễ mẹ cầu xin cho ai, thì Chúa xét, nhưng họ bị cầm buộc, hay được tha còn tùy theo tội nặng nhẹ của họ. Chúa gọi đến là may lắm rồi! Chúa cho mẹ bằng an cả hồn lẫn xác, song Chúa cũng cho con nói Chúa bảo: Hãy cho người đói ăn, thì như cho Ta ăn. Còn cầu nguyện thì chỉ làm cho Ta ấm lòng, chứ không thực hiện điều ta muốn. Hơn thế nữa, đem đức tin vào trong công việc là đức tin sống. Chúa nói: “Ai yêu mến người là yêu mến Thầy”. Chúa cho con nói tới đây thôi! Con xin phép đi!
Ngày 20. 02. 2006 (10:25 am)
- Câu chuyện giữa hai chị em:
***** về việc Chúa xét & Biên giới sự chết của mọi Linh Hồn
– (Thủy): Em biết không, ông Trường Linh vì Chúa, chỉ muốn ở chỗ giáo dân cần, mà tránh né cái khổ, sợ chết! Ông có lỗi, song cũng là muốn được ở chỗ tốt đẹp để mở mang nước Chúa. Còn chuyện chị Hoài thì đã vì tình trai gái mà xa lánh Chúa. Còn cô Thanh thì nặng hơn. Chị cho biết cô Thanh cho như là thiếu suy nghĩ! Còn nhiều người khác đến với Chúa, ở bên Chúa, cầu xin chảy cả nước mắt, mà vẫn bị Chúa phạt, vì họ xin khi mà họ cần, đến khi họ được ơn rồi, họ lại vì chuyện đời sống, ham này, ham nọ mà quên Chúa đi! Chị nói thật, khi mà ngta đã khóc, mà đã được Chúa ban ơn cho, thì đáng lý ra ngta chẳng dám phạm tội. Đây là chị cắt nghĩa cho em biết qua loa vậy thôi, chứ Chúa rất công bằng. Chúa xét mọi trường hợp, và còn mọi khía cạnh.
– (Hợp): Khi mình hấp hối, trí mình đâu có tỉnh táo, em sợ khi chết, mình đâu biết người hỏi mình là ai … rồi sao mình quyết định được?
– (Thủy): Chị chết do ngta gài mìn, nên không có giờ hấp hối. Nhưng chị nghĩ nếu em gặp trường hợp bệnh, thì trên giường bịnh, em cứ cầu xin lúc mà em còn tỉnh! Còn khi đã chết, thì chị cho em hay linh hồn còn sáng suốt hơn người bịnh nằm chờ chết! Chị nói rõ ràng cho em hay, đến giây phút ấy có thể em sẽ gặp hai người: Một người áo đen, một người áo đỏ. Chúa cho Thánh Linh hỏi: Chị hay anh muốn theo ai. Người chết được quyền suy nghĩ. Khi ấy, màu nào cũng rực rỡ, chỉ cần thưa con muốn màu đen là Chúa đi ngay.
Còn nếu em chọn theo Chúa, thì Thiên Thần phải trình hồ sơ về các tội nặng nhẹ em làm khi sống, và Chúa sẽ xét ngay!
– (Hợp): Chị thấy hồ sơ của chị Thiên Thần cầm nặng hay nhẹ? Hihi …
– (Thủy): nặng oằn lưng! Nói chơi, chứ Hồ Sơ, hay Nặng Nhẹ và các thứ khác … là chỉ nói theo ngôn ngữ loài người cho em dễ hiểu thôi, em biết không? Tuy nhiên, về phần tinh thần, hay nội dung nếu em chịu suy nghĩ thì cũng không có gì khác!
– (Th): Chị hỏi em, Từ ngày chị cứ giới thiệu các LH cần … về cho em, để em xin lễ giúp họ, nhiều khi cứ phải là lễ 30 … Em thấy tâm trạng em ra sao?
– (H). Kể thì cũng hao thật! (Hợp cười) Em nói đùa thôi! chứ mình thấy tội nghiệp, khi các LH nói ra sự cực khổ, chịu lâu trong u tối, làm lòng mình gợn lên niềm thương xót, và chỉ muốn giúp cho họ mau được ra khỏi nới đó! Chứ còn tiếc gì nữa! Ngoại trừ khả năng kiếm tiền của em có hơi hạn hẹp, nên cũng không giúp được nhiều!
– (Th): Chị bảo cho em biết, họ rất biết ơn, và đang mong mỏi giúp em bất cứ một điều gì! Em cứ nghiệm đi không phải đợi chết rồi mới thấy! Thôi chị đi đây! Chúc em bằng an!
Ngày 10. 3. 2006 (13:15 pm)
- Tôi được báo tin: Cha mẹ đã được Chúa cho VUI và bây giờ lại được thêm điểm
***Câu chuyện sau khi chết!
– (Thủy): Hôm nay đặc biệt cháu về báo cho chú một tin vui.
– (Tâm): Cám ơn cô, Có tin gì vui, xin cô cho biết?
– (Th): Sở dĩ hôm nay cháu mới báo cho chú tin mẹ chú đã được Chúa cho VUI hơn, là vì cháu mới được các Thánh cho biết. Cháu cũng có công việc mới, xin báo cho chú biết!
– (T): Trước hết là cám ơn cô đã cho biết tin mẹ tôi! Tôi rất vui! Nhưng hai năm trước cô đã cho biết là các ngài đã được Chúa cho vui rồi kia mà! Nên tôi muốn biết “Vui Hơn” nghĩa là sao?
– (Th): Giống như người được tặng quà đó chú!
– (T): Vâng, tôi nhớ có lần Thầy tôi bảo nhà tôi là, hễ con giúp người nghèo, hay là cầu nguyện cho các LH mồ côi mà họ được vui thì Thầy, Chúa cũng cho quà. Tôi hiểu rồi! Tôi Cũng muốn được chia sẻ với cô về tin: cô có việc làm mới! Cô có thể nói cho biết được không?
– (Th): Cháu được trông nom những người mà Chúa cho ơn vui.
(tôi đoán chắc cô vừa mới biết tin mẹ tôi là nhờ Thánh bàn giao công tác; Tôi cũng có thể đoán được là vai trò Sứ giả của Đức Mẹ chắc chắn đã là Thánh rồi – đồng nghĩa với việc ở Thiên Đàng – tức là thường xuyên ở bên Chúa, Đức Mẹ).
– (T): Tôi cám ơn cô nhiều lắm!
– (Th): Chú hãy cám ơn Chúa, không phải cám ơn cháu, mẹ cũng nên biết, Chúa cho ai việc gì, thì cũng giống như ở thế gian mà mọi người được Chúa cho ơn vậy! Hôm nay Cháu thấy được là, vì cô chú hết lòng tin cậy, và kính thờ Chúa, cho nên Chúa đã cho một ơn đặc biệt là hai cụ được thêm vui (Tôi thầm Cảm tạ ơn Chúa và Mẹ Maria kính yêu). Cháu nói về tâm linh nhé! Khi mà ai chết thì sẽ gặp được một vị thần Thánh tới hỏi: Muốn theo ai? tối hay sáng? Tùy họ chọn. Nếu như mẹ cháu chết mà bà còn muốn về thăm các con, thì Chúa cũng cho một thời gian để suy ngẫm, còn như nói muốn về bên Chúa, thì việc trước tiên là phải đền tội.
Cháu cũng phải nói thêm là: Khi mà một LH từ chối Chúa, thì sẽ đi vào trong bóng tối.
- Có rất nhiều Hy Vọng cho Tổ Tiên chúng ta! Hay những ai chưa được nhận biết Thiên Chúa.
– (Thủy): Cháu hỏi cô nhé! Khi cô chết, cô có muốn về lại nhà mình không?
– (Trinh): Mình biết rồi! không dại gì muốn về! Tôi không muốn làm ma luổn quẩn ở trần gian!
– (Th): Cháu cũng biết điều này là những người có đạo thường nói như cô. Song người chưa biết Chúa thì họ nghĩ khác ta! Cháu ví dụ như ông hàng xóm của nhà Hợp em cháu … (những chuyện bên nhà cô Hợp, khi ba mẹ con gặp nhau ở bên ấy thì không có tôi, nên cũng có nhiều chuyện tôi không biết). Chú nghĩ đi, trong thế giới tâm linh thì chỉ có một Chúa mà thôi! Nhưng ở trần gian, ngoại trừ người có đạo (tin Chúa), tất cả người đời, nhất là càng xét theo khoa học thì lại càng cho Chúa (Giêsu) hay Phật (Thích Ca) cũng đều là ngưòi cả, vì có thể xác. Vì vậy ta không thể bắt họ nói hay tin như ta! Cho nên, sau này rất có thể có nhiều điều khó khăn sẽ xảy ra. Cháu xin nói tiếp ông hàng xóm nhà Hợp là, khi sống, ông ta không có tâm ý theo một đạo nào cả, nên khi chết tất nhiên là ông chẳng biết ai để theo, và cũng chưa ai giới thiệu cho ông một con đường. Chẳng hạn như kẻ thì đưa vào chùa, hay người thì đem vô nhà thờ. Cháu vì gặp, nên có khuyên ông nên theo đạo Chúa, vì thế cháu có bảo Hợp em cháu hãy cầu nguyện cho ông ta. Song vì khi chết ông đã hứa không về nhà, nên cứ vừa muốn vào, lại bị lời hứa kìm hãm nên lại thôi, vì thế ông ta chỉ đứng ở ngoài sân. Hợp bảo cháu: Em cầu nguyện cho ông ta thì được, nhưng em chỉ sợ ông ta theo vô nhà, nên em cầu nguyện cho ông ta ở ngoài sân được không? Cháu có bảo nó ông ta là người tốt thì không việc gì phải sợ, nhưng nó nhát, nó chỉ cầu ngoài sân và còn hỏi: thay vì cầu buổi tối, ta cầu buổi sáng cũng vậy chứ gì? Cháu bảo: Sáng hay tối gì cũng được! chủ yếu là mình thành tâm!
Luận: Tất cả mọi người sinh ra trên cõi đời đều là con một Chúa, chứ không phải chỉ có ai rửa tội thì mới là. Bởi vậy, Chúa rất nhân từ, luôn đợi chờ họ, miễn là khi sống ngta không làm điều ác, thì vẫn có nhiều hy vọng! Họ cũng thuộc thành phần những LH không có người cầu nguyện cho, mà từ ngữ thế gian gọi là linh hồn “Mồ côi” – Mồ côi không có nghĩa là không có cha mẹ, mà chỉ là không có người lo lắng giúp đỡ – Trường hợp những người này cũng không phải là bị lãng quên, vì thân nhân họ cũng đều là chưa biết Chúa. Vì vậy nên hàng năm Giáo Hội đều có cầu nguyện cho các linh hồn này, nhưng vẫn chưa đủ. Và họ vẫn cần đến sự cầu nguyện của chúng ta nữa! Y hệt như trần gian GH vẫn luôn nhắc nhở chta cầu nguyện cho những người ngoại giáo trên khắp thế giới vậy! Giáo hội Thông Công là thế! Trường hợp của ông hàng xóm này, chúng ta sẽ hiểu là: Nhờ lời cầu nguyện của cô Hợp, ông “hàng xóm” đó được ơn Chúa, sẽ sớm chấp nhận lời khuyên của cô Thủy, hay một vị Thánh nào do Đức Mẹ sai tới làm việc với ông ấy. Suy như thế, việc rao giảng hay loan báo Tin Mừng, không phải chỉ là công việc giới hạn ở trần gian thôi đâu! Và như vậy, Tổ tiên chúng ta ngày xưa chưa được nhận biết Chúa, cũng tràn đầy hy vọng, nếu chgta nhớ đến và tiếp tục cầu nguyện cho họ. (CÒN TIẾP).
————————- ♥–PHẦN HAI – ♥————————–
TẦM QUAN TRỌNG CỦA ẤN TÍN THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG
Chủ nghĩa Hiện đại Thần Học & Cái Chết Bí Ẩn của ĐGH. Gioan Phaolô Đệ Nhất
Chủ Nghĩa Hiện Đại của Thần Học (Tiếp nối)
- Những Nhân Vật Chính và Các Quan điểm Cá nhân
Alfred Loisy (Pháp, 1857–1940): Được coi là “cha đẻ” của Hiện đại Công giáo. Ông lập luận rằng Giáo hội phải tiến hóa, và Kinh Thánh cần được đọc qua lăng kính lịch sử. Tác phẩm L’Évangile et l’Église (1902) bị lên án, dẫn đến việc ông bị khai trừ năm 1908.
George Tyrrell (Ireland, 1861–1909): Linh mục Dòng Tên, nhấn mạnh trải nghiệm cá nhân và coi giáo lý là biểu tượng. Nhà Dòng bị buộc phải khai trừ năm 1906 và Giáo hội năm 1908.
Louis Duchesne (Pháp, 1843–1922): Áp dụng phương pháp lịch sử vào lịch sử Giáo hội; sách của ông bị đưa vào Danh sách Cấm (Index) năm 1912.
Các nhân vật khác: Friedrich von Hügel (triết gia tôn giáo), Romolo Murri (chính trị gia Kitô giáo Ý, bị khai trừ 1909), và bị ảnh hưởng bởi những nhân vật trong Tin lành như: Friedrich Schleiermacher, Albrecht Ritschl, Adolf von Harnack.
- Phê Phán và Phản Ứng của Giáo Hội
Giáo hội Công giáo coi Hiện đại là mối đe dọa lớn nhất kể từ thời Cải cách Tin lành. Thánh GH. Piô X mô tả nó là “tổng hợp của mọi dị giáo” vì nó dẫn đến chủ nghĩa bất khả tri, chủ nghĩa tiến hóa giáo lý, và phủ nhận quyền lực Giáo hội. Trường hợp linh mục Luther.
Chú thích của TGTL: Cuộc Cải cách Tin lành bắt đầu vào năm 1517, do Martin Luther khởi xướng Ngày 31 tháng 10 năm 1517. Tại Thành Wittenberg, Đức. Sự kiện này đánh dấu mốc khởi đầu của một phong trào cải cách tôn giáo, dẫn đến sự hình thành các giáo phái Tin lành (Protestant) ở châu Âu, rồi sau sang Châu Mỹ. Ly giáo thực ra đã là hành động chống lại Đức Kitô rồi, vì chống Đấng Sáng Lập, mà Đấng ấy lại là Thiên Chúa. Năm 2017 chính Francis làm lễ kỷ niệm 500 năm cuộc cải cách Tin Lành bằng cách phát hành tem Martin Luther, và cho tạc tượng Luther để ở phòng khánh tiết Vatican (Phòng kỷ niệm Phaolô VI). Chỉ cần hành động đó, đủ để kết luận Francis tôn thờ chủ nghĩa Hiện Đại, một chủ nghĩa đã bị Thánh GH. Piô X kết tội là dị giáo. Thực ra ông ta còn làm nhiều việc dị giáo hơn!
a). Các Văn kiện Chính: Lamentabili Sane (1907) lên án 65 mệnh đề sai lầm; Pascendi Dominici Gregis (1907) phân tích hệ thống Hiện đại và yêu cầu các biện pháp kỷ luật như kiểm duyệt sách vở, sa thải giáo sư nghi ngờ, và thành lập nhóm giám sát địa phương. Umberto Benigni tổ chức mạng lưới “Integralists” để săn lùng Hiện đại. (Bạn nào muốn biết 65 mệnh đề sai lầm, xin vào “tgtl.online”).
b). Phê phán Triết học: Nó bị cáo buộc làm tan biến mặc khải thần thánh thành quá trình nội tại, dẫn đến chủ nghĩa duy ngã và vô thần ngầm. Trong Tin lành, nó bị bảo thủ chỉ trích là làm mất giá trị siêu nhiên của đức tin.
– TGTL đưa ra cho các bạn thấy một sự kiện điển hình lớn lao là, năm 1967 Phaolô VI thay Thánh Lễ Tridentino là Hy Tế Thánh Lễ dâng hiến Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô lên Thiên Chúa Cha, với một bàn thờ mà trọng tâm là Thiên Chúa. Nơi con Thiên Chúa ngày đêm ngự trong Nhà Tạm là chính “Hòm Bia Thiên Chúa” thời Tân Ước, để đổi lấy một chiếc bàn ăn tầm thường chỉ là biểu tượng cho chiếc bàn tiệc được H.Y Tam Điểm Annibale Bugnini và 6 mục sư tiến sĩ George, Jasper, Shepherd, Kunneth, Smith và Thurian, thiết kế cho Phaolô VI thực hành việc kỷ niệm Bữa Tiệc Ly, chứ không phải là Hy Tế Thánh Lễ. Tam Điểm mệnh danh cho Phaolô VI cũng là Thánh Lễ, nhưng là Novus Ordo. Một dấu hiệu của TĐ y như trên tờ giấy bạc 1 Dolar, thì ra đây là thánh lễ của một Trật Tự Mới (!?). Đúng vậy, qua một Công Đồng cách mạng, Gioan 23 và Phaolô VI đã “lèo lái” Giáo Hội qua một Trật Tự Mới của Alta Vendita Carbonari. Quả nhiên, con người quây quần bên cái bàn để cùng nhau dự một bữa tiệc. Hòm Bia Thiên Chúa bị bỏ qua một bên, không tham dự gì với bữa tiệc của con người gồm linh mục và giáo dân. Bạn biết không, các bài đọc bị cắt đi gần hết, để thay thế bằng những câu đối thoại đôi khi ngồi ngẫm nghĩ, thấy muốn chửi cái bọn TĐ và mấy tên mục sư TL. Chúng nó có vẻ như rất coi thường người giáo dân CG và ông cha, hoặc GM. Mọi người đã tới nhà thờ là để thờ phượng Chúa, nhưng nó bày chuyện bỏ Chúa Giêsu Thánh Thể qua một bên. Có nơi không có Nhà Tạm luôn, cất vô một cái phòng khác! Thế là cha con không biết Chúa ở đâu nữa, lâu lâu Cha “tạt nước” cho con một câu “Chúa ở cùng ACE, rồi ở dưới “tạt” lên “Và ở cùng Cha”. Cứ y như cả bầy vô nhà thờ lâu rồi, mà cũng không biết Chúa ở đâu hết! Mà có lẽ nhiều người không biết thật, vì Ngày xưa Chúa ở trong Nhà Tạm, mà bây giờ Nhà Tạm và cả Chúa nữa, không được ngự ở một nơi xứng đáng nhất! Chúng đuổi Chúa đi chỗ khác rồi! Chúng xếp cho các cha vị trí quan trọng nhất trong nhà thờ! Đó là chúng “làm tan biến Thần Thánh, thành quá trình nội tại, dẫn đến chủ nghĩa duy ngã”. Tức là tôn cái Tôi của mình. Trong trường từ thế kỷ 19 người ta dạy cho các ngài Chủ nghiã Nhân Văn. Thuật ngữ Humanism chính thức phát triển ở thế kỷ 20, đề cao nhân vị, đặt con người và lý trí vào vị trí trung tâm, thay vì thần học, phản kháng giáo điều, và làm mất giá trị siêu nhiên của Đức Tin. Đức Mẹ La Salette cũng đã nói rồi: “Các người đã được thánh hiến, nhưng đã làm mất Đức Tin và nên ngai của tên Phản Kitô”. Cho nên mới dễ dàng bỏ Chúa Giêsu Thánh Thể đi, để lấy chỗ cho mình đứng, không lâu đâu vô thần sẽ chiếm chỗ thôi!
- Di Sản và Ảnh Hưởng Hiện Đại
Mặc dù bị đàn áp, Hiện đại đã mở đường cho các cải cách sau này. Công đồng Vatican II chấp nhận một số phương pháp phê bình Kinh Thánh (qua Divino Afflante Spiritu năm 1943 của ĐGH. Piô XII), và các nhà thần học như Yves Congar, Henri de Lubac được phục hồi danh dự. Ngày nay, nó ảnh hưởng đến thần học đương đại, nhấn mạnh đối thoại với khoa học và văn hóa, nhưng vẫn bị các nhóm bảo thủ (như traditionalists) coi là nguồn gốc của khủng hoảng trong Giáo hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các ý tưởng về trải nghiệm tôn giáo chủ quan tiếp tục sống động trong các phong trào như Thần học Giải phóng hoặc Thần học Nữ quyền.
Tóm lại: Chủ nghĩa Hiện đại Thần học đại diện cho cuộc xung đột giữa truyền thống và hiện đại trong Kitô giáo, thúc đẩy sự gây chia rẽ cách sâu sắc. Tới thời Francis trở đi thì truyền thống đã bị dứt bỏ. Chúng tôi đưa lên hai hình ảnh, hai tiếng nói của hai Giáo hoàng, để các bạn cùng luận:
– Thánh GH.Piô X Năm 1907: Chủ nghĩa Hiện đại là cống rãnh gom mọi thứ dị giáo.
– Ngụy gh. Francis (2013 trong cuộc phỏng vấn với Antonio Spadaro): Tôi thấy Chúa Giêsu Kitô đang gõ cửa từ bên trong Giáo hội, và muốn ra ngoài để gặp gỡ thế giới hiện đại.
(Chúa Giêsu có cần làm như vậy không? Ngài chỉ bảo: “Anh em hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, và Rửa tội cho họ Nhân Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và làm cho mọi người trở thành môn đệ” (Mc 16, 15-20). Như vậy hiển nhiên Francis là kẻ nói dối.
Chúa là Sự Thật và Người ghét kẻ dối trá, hay ngụy biện.
|⚜️|Nói Bằng hình ảnh trong Tư Tưởng: Cánh cửa mà năm 1907 bị đóng sập và khóa nhiều lớp, thì năm 2025 đã mở rất rộng, phủ nhận mặc khải siêu nhiên, phủ nhận phục sinh lịch sử, biến giáo lý thành biểu tượng chủ quan. Biến Giáo hội thành một NGO nhân đạo, tức là Tổ chức Phi chính phủ, hơn là thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô.
———————————————————————————————-
NGO viết tắt của “Non-Governmental Organization”: Tổ chức Phi chính phủ.
Thưa quý thính giả và các bạn trẻ, Không qua lý thuyết, người ta không thể nào tin được là, Tam điểm ba đầu sáu tay, hay sao mà lọt vô được cơ quan đầu não của một tôn giáo, có hệ thống tổ chức chặt chẽ nhất, Kỷ cương nhất. cho dù rất nhiều dấu chỉ của sự dị giáo nơi người đứng đầu Giáo Hội, thiên hạ vẫn không tin rằng, kẻ thù thật sự đã chiếm lĩnh toàn vẹn khoang máy của con tàu Giáo Hội, và chúng thật sự đang điều khiển con tàu. Để chứng minh rằng lời nói của TGTL “không phải là gió”. Ngay giây phút này đây, TGTL mời quý vị chứng kiến cái chết đầy “Bí Ẩn” của một vị Giáo Hoàng Hiền Hòa, lên ngôi chỉ trong 33 ngày, Ngài đã nhìn thấy cái guồng máy “ma quái” kinh khủng, rồi nhất quyết ra tay nắm chặt cái bánh lái tua tủa những xúc tu với nhiều con mắt trợn trừng nhìn, thế rồi … chúng biến Ngài thành một bộ xác không hồn, không giẫy giụa.
Quý vị và các bạn cứ từng bước theo tôi, tìm đến với một vị Giáo Hoàng hiên ngang nhất, can đảm nhất giữa các Giáo Hoàng của thế kỷ 20. Người cương quyết chỉ một mình chiếm đoạt lại Giáo Hội đã bị mất trong tay kẻ thù, bởi chung quanh đều là dịch. Người chính là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhất. Tên của Ngài là Albino Luciani. Một Tên đáng ghi nhớ nhất!
I. Bối Cảnh Một Vatican về Chiều: Ngân Hàng Vat. Bê bối – P2 – Mafia
Năm 1978, Vatican bị rung chuyển bởi một vụ bê bối tài chính khổng lồ liên quan đến Ngân hàng Vatican (IOR), Tam điểm Lôgia P2, và mafia Ý. Trung tâm của cơn bão là Giám mục Paul Marcinkus, người Mỹ gốc Litva, chủ tịch IOR từ 1971 đến 1989. Marcinkus không chỉ là giám mục – ông còn là người bảo vệ tài chính cho các hoạt động bí mật của Vatican.
Ngân hàng Vatican được thành lập năm 1942 bởi Giáo hoàng Piô XII để quản lý tài sản của Tòa Thánh. Nhưng đến thập niên 1970, nó trở thành công cụ rửa tiền cho mafia và các tổ chức tội phạm. Marcinkus hợp tác với Roberto Calvi, chủ tịch Ngân hàng Ambrosiano, và Michele Sindona, cố vấn tài chính khét tiếng có liên hệ với Cosa Nostra.
Năm 1982, Calvi bị treo cổ dưới cầu Blackfriars ở London – một nghi thức hành quyết của mafia. Trước đó, Sindona bị đầu độc trong tù. Cả hai đều có thẻ thành viên Lôgia P2, một nhánh Tam điểm bí mật do Licio Gelli lãnh đạo. P2 có hơn 2.400 thành viên quyền lực, bao gồm:
3 bộ trưởng Ý – 43 nghị sĩ – 195 sĩ quan quân đội – Và nhiều giám mục, hồng y trong Vatican.
I. Dòng thời gian – 33 ngày định mệnh
26/8/1978 : Gioan Phaolô I được bầu – nụ cười, khiêm nhường, chống tham nhũng.
Giáo hoàng Gioan Phaolô I (Albino Luciani) nổi tiếng hiền lành, nhưng quyết tâm cải tổ IOR (Ngân hàng của Chúa) . Trong 33 ngày trị vì.
15/9/1978: Gặp Tổng giám mục Paul Marcinkus (IOR) – yêu cầu báo cáo tài chính.
25/9/1978: Gặp Hồng y Villot (Quốc vụ khanh) – đòi thay đổi nhân sự IOR.
Chuẩn bị sa thải Marcinkus, Villot, và Casaroli – những nhân vật trung tâm của bê bối.
Phát hiện danh sách 121 thành viên Tam điểm trong Vatican, bao gồm hồng y và giám mục.
Cái chết của Gioan Phaolô I – Chi tiết từng giờ
Thứ Năm, ngày 28 tháng 9 năm 1978 Giáo hoàng Gioan Phaolô I (Albino Luciani) đã sống 33 ngày trong Tòa Thánh. Ông không còn là “Giáo hoàng nụ cười” của công chúng nữa – ông là người đàn ông nguy hiểm nhất thế giới đối với một số kẻ trong Vatican.
7:00 sáng – Gioan Phaolô I dâng Thánh lễ riêng tại nhà nguyện cá nhân. Linh mục Diego Lorenzi, thư ký riêng, ghi nhận:
“Ngài trông mệt mỏi, nhưng quyết tâm. Ngài nói: ‘Tôi phải làm sạch nhà của Chúa.’”
8:30 sáng – Bữa sáng với Hồng y Jean Villot (Quốc vụ khanh). Villot báo cáo:
- IOR (Ngân hàng Vatican) đang mất hàng trăm triệu USD qua Ngân hàng Ambrosiano.
- Marcinkus từ chối cung cấp hồ sơ đầy đủ.
- Danh sách 121 thành viên Tam điểm trong Vatican đã được gửi đến bàn Giáo hoàng.
9:15 sáng – Gioan Phaolô I ký sắc lệnh chuẩn bị sa thải:
- Paul Marcinkus – Chủ tịch IOR (Ngân hàng Vatican)
- Jean Villot – Quốc vụ khanh
- Agostino Casaroli – Ngoại trưởng Vatican
- Giovanni Benelli – Tổng giám mục Florence (đối thủ chính trị) được gọi về để thay thế Villot.
10:00 sáng – Gặp Đức ông John Magee, thư ký thứ hai. Giáo hoàng giao:
“Hãy chuẩn bị tuyên bố công khai vào thứ Hai. Chúng ta sẽ làm sạch IOR trước Giáng Sinh.”
11:30 sáng – Gọi điện cho Roberto Calvi (chủ tịch Ambrosiano) tại Milan. Calvi hứa sẽ gửi bằng chứng chuyển tiền bất hợp pháp từ Vatican đến Thụy Sĩ.
1:00 chiều – Ăn trưa một mình. Nữ tu Vincenza Taffarel (người nấu ăn 50 năm trong Vatican) phục vụ:
- Súp rau
- Gà luộc
- Salad Giáo hoàng từ chối rượu vang, uống nước lọc.
3:00 chiều – Gặp Licio Gelli (thủ lĩnh P2) qua điện thoại. Gelli đe dọa:
“Nếu ngài động vào IOR, ngài sẽ không thấy mặt trời mọc ngày mai.”
4:30 chiều – Gặp Cardinal Sebastiano Baggio. Baggio cảnh báo:
“Nhiều hồng y sẽ phản đối nếu ngài sa thải Villot và Marcinkus.”
6:00 tối – Làm việc một mình trong phòng ngủ. Tài liệu trên bàn:
Bản dự thảo cải tổ có chữ ký tay: “Làm sạch trước Giáng Sinh.”
8:00 tối – Ăn tối nhẹ với Lorenzi và Magee. Giáo hoàng nói:
“Tôi cảm thấy đau ngực nhẹ, nhưng không sao. Có lẽ do căng thẳng.”
9:30 tối – Lorenzi và Magee rời phòng. Giáo hoàng khóa cửa từ bên trong – điều hiếm khi làm.
10:15 tối – Nữ tu Vincenza gõ cửa mang thuốc đau ngực (digitalis). Không có tiếng trả lời. Chị không mở cửa.
Thứ Sáu, ngày 29 tháng 9 năm 1978 4:30 sáng – Nữ tu Vincenza quay lại với cà phê sáng. Gõ cửa – không trả lời. 4:45 sáng – Dùng chìa khóa phụ mở cửa. Phát hiện:
- Giáo hoàng ngồi trên giường, đầu gục về trước.
- Đôi mắt mở to, miệng há.
- Tay phải cầm tài liệu cải tổ IOR (trong có danh sách 121 giáo sĩ Vatican).
- Đèn đầu giường vẫn sáng.
- Đồng hồ báo thức đặt 5:00 sáng – chưa reo.
4:50 sáng – Vincenza hét lên. Lorenzi và Magee chạy đến. 4:55 sáng – Gọi bác sĩ Renato Buzzonetti (bác sĩ Giáo hoàng). 5:10 sáng – Buzzonetti đến, tuyên bố: “Đã chết khoảng 5–6 giờ” → tức 11:00 tối hôm trước.
5:30 sáng – Hồng y Villot đến đầu tiên. Ông ra lệnh ngay lập tức:
1). Không khám nghiệm tử thi. Không khám nghiệm tử thi (trái quy định Giáo luật).
2). Không chụp ảnh thi thể.
3). Không niêm phong phòng.
4). Thu dọn tất cả tài liệu trên bàn.
5). Nữ tu Vincenza (người phát hiện thi thể) bị cấm nói chuyện với báo chí.
6:00 sáng – Villot gọi Marcinkus đến, đốt một số giấy tờ trong lò sưởi phòng Giáo hoàng.
6:30 sáng – Thi thể được ướp xác bởi Ernesto Signoracci (Một người không có giấy phép hành nghề tại Vatican). Dịch thi thể bị hút ra – xóa bằng chứng digitalis.
7:30 sáng – Vatican phát thông báo chính thức: “Giáo hoàng Gioan Phaolô I qua đời vì nhồi máu cơ tim vào khoảng 11:00 tối.”
Có mâu thuẫn giữa ba người :
– Nữ tu Vincenza nói: “Tôi tìm thấy ngài lúc 4:45 sáng”.
– Thông báo nói: “Thư ký Magee tìm thấy lúc 5:30 sáng”.
– Đôi dép của Giáo hoàng Kính mắt và thuốc đau ngực biến mất.
Ngày 29/9, 12:00 trưa – Hồng y đoàn họp kín. Villot tuyên bố:
“Không điều tra. Không khám nghiệm. Chôn cất ngay.”
Ngày 30/9 – Tang lễ. Thi thể nằm trong quan tài mở – mặt tái xanh, môi tím – dấu hiệu ngộ độc digitalis.
Giáo hoàng Gioan Phaolô II (1978–2005) lên thay, giữ Marcinkus thêm 11 năm, và chỉ cách chức ông năm 1989 sau khi Ambrosiano sụp đổ, gây thiệt hại 1,4 tỷ USD cho Vatican. Marcinkus trốn sang Mỹ, chết năm 2006 mà không bao giờ bị xét xử.
II. 5 nhân vật then chốt trong vụ án
1). Paul Marcinkus Tổng giám mục, Chủ tịch IOR (Ngân hàng của Chúa) – rửa tiền mafia.
2). Roberto Calvi Chủ tịch Banco Ambrosiano. Nợ IOR 1,4 tỷ USD – Bị treo cổ 1982.
3). Licio Gelli Đại sư Lodge P2. Tam điểm, CIA, mafia – danh sách 962 thành viên.
4). Jean-Marie Villot Hồng y Quốc vụ khanh (Chỉ sau Giáo Hoàng) Che giấu thi thể.
5). Michele Sindona Ngân hàng gia Cố vấn tài chính Vatican – Bị đầu độc 1986.
Kết luận của tôi (Taylor Marshall):
Đây không phải nhồi máu cơ tim. Đây là vụ ám sát hoàn hảo:
- Digitalis (thuốc đau ngực) → liều cao → ngừng tim đột ngột.
- Không khám nghiệm → xóa chứng cứ.
- Villot, Marcinkus, Casaroli → được giữ chức dưới thời Gioan Phaolô II.
- Danh sách 121 tên → biến mất vĩnh viễn.
Alta Vendita đã thắng ván này. Một Giáo hoàng dám làm sạch nhà Chúa bị giết trong 33 ngày.
————————————————————–
Nguồn Marshall trích dẫn trong chương này:
- In God’s Name – David Yallop (1984) → tái hiện từng giờ
- Phỏng vấn Nữ tu Vincenza (1983, bị Vatican cấm nói)
- Nhật ký Đức ông John Magee (rò rỉ 1990)
- Báo cáo y khoa Signoracci (rò rỉ 2006)
—————————————————————
Phụ chú: TGTL chỉ trích dẫn những điểm quan trọng của vụ án ĐGH J.P.I trong tác phẩm Infiltration (dày vài trăm trang nói về sự “Thâm Nhập” và hủy diệt Giáo Hội từ bên trong) của Tiến sĩ Taylor Marshall. Được một số H.Y, GM đọc và công nhận. Tác phẩm này đã được xuất bản năm 2019 bằng tiếng Anh, nên đã có không ít người biết tới, nhưng hình như chưa có ai dịch sang tiếng Việt, nên hầu hết người Việt không hay biết.
Trong lần thứ nhì, Ts. Taylor Marshall Khẳng định:
Gioan Phaolô I bị giết – không phải nhồi máu cơ tim.
- Danh sách P2 là bản án tử.
- IOR là ngân hàng của quỷ – P2 là tay sai.
- Vatican chưa bao giờ được làm sạch.
Lời kêu gọi cuối cùng:
“Hãy đòi mở lại vụ án Gioan Phaolô I. Hãy đóng cửa IOR. Hãy công khai danh sách P2 trong Vatican. Chỉ có sự thật mới cứu được Giáo hội khỏi tiền bạc và Tam điểm.”
——-oOo——-
Vì Thời Gian Có Hạn, Nên Mục SUY NIỆM BỐN MÙA Xin Rời vào Kỳ Tới
——-oOo——-
65 Mệnh đề bị lên án trong Lamentabili Sane Exitu (1907)
- Giáo Hội không thể đòi hỏi phải tin vào những chân lý được truyền đạt qua mặc khải thần linh nếu những chân lý ấy chỉ có thể đạt được bằng lý trí tự nhiên mà thôi.
- Mặc khải không thể được chứng minh bằng những dấu chỉ bên ngoài.
- Mặc khải chỉ là ý thức mà con người có về mối tương quan của mình với Thiên Chúa.
- Mọi tôn giáo đều là hiện tượng tự nhiên của tâm lý con người.
- Sự miễn nhiễm khỏi sai lầm của Giáo hội chỉ thuộc về lãnh vực đức tin và phong hóa.
- Giáo hội và các nhà phê bình Kinh Thánh đứng trên hai bình diện hoàn toàn khác nhau và gần như xa lạ với nhau.
- Khi ban hành các sắc lệnh về Kinh Thánh, các nhà chú giải Công giáo không thực sự tự do, vì họ phải luôn tuân phục những chỉ thị của Huấn quyền.
- Những người cho rằng Thiên Chúa thực sự là tác giả của toàn bộ Kinh Thánh đang nuôi dưỡng một quan niệm sai lầm.
- Những ai tin rằng Thiên Chúa thực sự là tác giả của toàn bộ Kinh Thánh đều có một quan niệm quá đơn giản và thô thiển.
- Sự linh hứng của các sách Thánh không gì khác hơn là một xung lực thúc đẩy tác giả viết.
- Sự linh hứng thần linh không mở rộng đến toàn bộ Kinh Thánh đến mức giữ cho mọi phần của nó khỏi mọi sai lầm.
- Nhà chú giải, nếu muốn nghiên cứu hữu ích các sách Thánh, phải trước hết gạt bỏ mọi quan niệm có sẵn về nguồn gốc thần linh của Kinh Thánh.
- Các sách Ngũ Kinh không do chính Môsê viết, mà do nhiều tác giả sống sau Môsê rất lâu.
- Các sách lịch sử và tiên tri Cựu Ước chỉ chứa những mảnh vụn của lịch sử hoặc những câu chuyện huyền thoại.
- Các sách Phúc Âm cho đến khi được Giáo hội phê chuẩn và công nhận mới có giá trị lịch sử chắc chắn.
- Sách Phúc Âm không ngừng được bổ sung bởi những thêm thắt và sửa đổi cho đến khi bộ giáo luật được định hình; do đó, trong đó chỉ còn lại một phần nhỏ và không chắc chắn về lời dạy của Chúa Kitô.
- Các sách Phúc Âm không phải là tiểu sử đúng nghĩa của Chúa Giêsu, mà chỉ là những bài suy niệm thần học.
- Lời tường thuật của Gioan không phải là lịch sử đúng nghĩa, mà là một suy niệm thần bí về Phúc Âm.
- Các giáo phụ và các nhà văn giáo hội đã bóp méo lời dạy của Chúa Giêsu bằng cách gán cho Ngài những điều Ngài không hề nói.
- Mặc khải không thể được chứng minh bằng bất kỳ dấu chỉ bên ngoài nào.
- Mặc khải chỉ là ý thức mà con người có về mối tương quan của mình với Thiên Chúa.
- Các giáo điều mà Giáo hội trình bày như mặc khải không phải là những chân lý rơi từ trời xuống, mà chỉ là những diễn giải về các cảm nghiệm tôn giáo.
- Có thể có sự đối lập giữa sự kiện được kể trong các sách Phúc Âm và ý nghĩa thần học của chúng.
- Nhà chú giải không được phép kết luận rằng một sách Thánh kể lại những điều hoàn toàn đúng sự thật, trừ khi đã chứng minh được tác giả muốn kể lại lịch sử thuần túy và đúng sự thật.
- Sự đồng ý của Giáo hội không làm cho một sách trở thành quy điển và được linh hứng.
- Các giáo điều đức tin chỉ có giá trị như những chỉ dẫn hướng về nội tâm, không phải như những chân lý tuyệt đối.
- Thần tính của Chúa Giêsu Kitô không được chứng minh từ các sách Phúc Âm, mà là một kết luận mà ý thức của Chúa Giêsu dần dần rút ra từ chính mình.
- Khi còn tại thế, Chúa Giêsu không hề dạy rằng Ngài là Đấng Thiên Sai, và các môn đệ cũng không coi Ngài là như vậy.
- Có thể chấp nhận rằng bí tích Thánh Thể bắt nguồn từ lời chúc tụng tạ ơn của Chúa Giêsu, nhưng sau đó được cộng đoàn Kitô hữu sơ khai nâng lên thành bí tích.
- Trong Tân Ước, cụm từ “Nước Trời” chỉ có nghĩa là một trật tự nội tâm không liên quan gì đến tương lai.
- Học thuyết về Chúa Kitô mà Phaolô, Gioan và các Công đồng Nicea, Êphêsô, Calcedon truyền lại không phải là học thuyết của Chúa Giêsu, mà là một sự phát triển của ý thức Kitô giáo về Ngài.
- Không thể hòa hợp ý nghĩa tự nhiên của các văn bản Phúc Âm với học thuyết của các nhà thần học về ý thức và sự hiểu biết vô hạn của Chúa Giêsu.
- Ai không bị thành kiến tôn giáo đều thấy rõ rằng Chúa Giêsu tự nhận mình chỉ là con người và đã phạm sai lầm.
- Nhà phê bình, với tư cách là nhà phê bình, không được quan tâm đến quyền bính của Giáo hội.
- Mặc khải chỉ là ý thức mà con người có về mối tương quan của mình với Thiên Chúa.
- Sự phục sinh của Chúa Giêsu không phải là một sự kiện đúng nghĩa, mà chỉ là một sự kiện siêu nhiên được các môn đệ cảm nghiệm trong tâm hồn.
- Đức tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô ban đầu không liên quan đến chính sự kiện phục sinh, mà chỉ liên quan đến việc Chúa Giêsu tiếp tục sống trong cộng đoàn các tín hữu.
- Học thuyết về sự chết chuộc tội không bắt nguồn từ Chúa Kitô, mà từ cộng đoàn sơ khai.
- Các ý kiến về nguồn gốc các bí tích mà các Giáo phụ và các nhà thần học thời kinh viện đã giảng dạy cho đến thế kỷ XIII chỉ là những ý kiến cá nhân, không phải của Giáo hội.
- Các bí tích chỉ có mục đích gợi lại sự hiện diện đầy ân sủng của Chúa Kitô trong tâm hồn tín hữu.
- Thánh Thể chỉ là một bí tích tưởng niệm sự hiện diện của Chúa Kitô trong Giáo hội.
- Phaolô không hề có ý định thiết lập bí tích Hôn phối.
- Các Kitô hữu sơ khai không hề có ý niệm về tính bất khả phân ly của hôn phối.
- Không có lý do nào để cho rằng bí tích Thêm Sức đã được các Tông đồ thiết lập.
- Không phải mọi điều mà tác giả sách Khải Huyền kể lại đều đã thực sự xảy ra trong lịch sử.
- Lời tiên tri chỉ khác với những dự đoán dựa trên kinh nghiệm ở chỗ nó diễn tả bằng hình ảnh những điều chưa xảy ra.
- Lời tiên tri về ngày tận thế mà Chúa Giêsu đã loan báo trong Phúc Âm là sai, vì Ngài chỉ lặp lại những quan niệm của thời đại Ngài.
- Chúa Giêsu đã sai lầm khi tiên báo ngày tận thế gần kề.
- Việc tiên báo những biến cố lớn lao không chứng tỏ Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.
- Các môn đệ đã tin Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai chỉ vì họ thấy Ngài làm phép lạ.
- Các phép lạ chỉ là những sự kiện kỳ lạ mà cộng đoàn sơ khai đã phóng đại để chứng minh cho đức tin của mình.
- Chúa Giêsu đã tự nhận mình là Đấng Thiên Sai chỉ vì Ngài thấy dân chúng muốn tôn mình làm vua.
- Giáo hội thời các Tông đồ không giống về bản chất với Giáo hội ngày nay.
- Giáo hội hiện đại là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài.
- Simon Phêrô không bao giờ nghĩ rằng Chúa Kitô đã trao cho mình quyền thủ lãnh trong Giáo hội.
- Các cơ cấu giáo hội Rôma không phải do ý muốn của Chúa Kitô, mà là sản phẩm của những hoàn cảnh lịch sử.
- Giáo hội tự cho mình là bất khả ngộ là một sai lầm nghiêm trọng.
- Chân lý không bất biến hơn con người; chân lý tiến hóa cùng con người, trong con người và nhờ con người.
- Chúa Kitô không hề muốn thành lập một Giáo hội như một xã hội kéo dài qua các thế kỷ.
- Giáo hội chỉ trở thành một xã hội có tổ chức chặt chẽ từ thời Decius và Constantinô.
- Huấn quyền của Giáo hội không thể quyết định ý nghĩa nội tại của các sách Thánh.
- Quyền giáo huấn của Giáo hội không phải do Chúa Kitô thiết lập, mà là một phát minh của chủ nghĩa giáo sĩ trị.
- Truyền thống chỉ là một hình thức truyền đạt mặc khải, không phải là một nguồn độc lập.
- Tiến bộ của khoa học đòi hỏi phải cải tổ cách hiểu về giáo điều Kitô giáo về Thiên Chúa, tạo dựng, mặc khải, Ngôi Lời nhập thể và ơn cứu chuộc.
- Chủ nghĩa Hiện đại Công giáo không có gì đáng trách khi nó cố gắng hòa giải Giáo hội với tinh thần hiện đại và khoa học hiện đại.
——-oOO——-
ACE/TGTL/SVTT&DCTĐ Kính chúc Quý thính giả và các bạn trẻ Một Tuần Lễ Bình An trong Thiên Chúa và Mẹ Maria.